BÁO CÁO RÀ SOÁT Báo cáo các điều kiện thực hiện mô hình trường học mới VNEN năm học 2017- 2018

        PHÒNG GD- ĐT MINH HÓA

   TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số:        /BC-THMH

Minh Hóa, ngày  28 tháng 8 năm 2017

 

 

 

BÁO CÁO RÀ SOÁT

Báo cáo các điều kiện thực hiện mô hình trường học mới VNEN

năm học 2017- 2018

          Thực hiện công văn số 138/GDĐT-TH ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Minh Hóa về việc rà soát, đảm bảo các điều kiện thực hiện mô hình trường học mới,

          Trường báo cáo việc rà soát, đảm bảo các điều kiện thực hiện mô hình trường học mới năm học 2017 – 2018 như sau:

          I. Ra soát, đánh giá tình hình triển khai mô hình trường học mới của nhà trường  trong những năm học trước:

1. Những công việc đã triển khai thực hiện:

1.1. Công tác quản lý, chỉ đạo:

               Qua hai năm học 2013 - 2014; 2014 - 2015 áp dụng đổi mới Phương pháp dạy học mới VNEN mức độ 1 và năm học 2015 – 2016; năm học 2016- 2017 triển khai thực hiện nhân rộng Dự án VNEN nhà trường đã bước đầu làm tốt ngay từ việc nâng cao nhận thức cho giáo viên, phụ huynh học sinh và cộng đồng, từ đó nhận được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng và xã hội. Đặc biệt phải kể đến các hoạt động trong nội dung chuyên môn, BGH nhà trường đã chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các nội dung:

+ Đẩy mạnh công tác triển khai, tuyên truyền mô hình trường học mới GPF-VNEN đến phụ huynh và nhân dân ( Trong các lần hội nghị Phụ huynh đầu năm học) đặc biệt là cha mẹ học sinh nắm nắm được cơ bản cách thức tổ chức tổ chức giảng dạy và học tập  theo mô hình này, đồng thời phân tích rõ với phụ huynh hiểu ưu điểm khi học theo chương trình VNEN. Ngay từ đầu năm học 2013 - 2014 trường đã báo cáo với lãnh đạo địa phương và họp với cha mẹ học sinh để giới thiệu mô hình trường học mới, những nội dung cha mẹ học sinh cần tập trung tham gia ban đầu về việc áp dụng mức độ 1 và chuẩn bị cho việc áp dụng toàn phần.

+ Tham mưu triển khai kịp thời những văn bản chỉ đạo của cấp trên về dạy học theo mô hình VNEN mức độ 1 và triển khai toàn phần.

+ Tham mưu với UBND huyện bố trí  biên chế giáo viên đủ 1,5 GV/lớp, thực hiện việc dạy học 2 buổi/ ngày, bố trí giáo viên có trình độ, có năng lực tốt để đảm nhận  các lớp dạy học VNEN.

   1.2. Công tác tập huấn cho đội ngũ:

 - Thường xuyên tham gia sinh hoạt chuyên môn, đẩy mạnh ý thức tự học, cử giáo viên có năng lực tham gia tập huấn cấp cụm tỉnh (Trong 3 năm có 4 lượt đồng chí cán bộ, GV được cử tham gia tập huấn cấp cụm tỉnh), về tập huấn lại cho toàn bộ giáo viên trong trường, đảm bảo đầu mỗi năm học 100% giáo viên được tham gia tập huấn khi bước vào năm học mới. Việc tổ chức tập huấn đảm bảo tính nghiêm túc và đạt hiệu quả cao.

       - Vào đầu các năm học lên kế hoạch chi tiết tổ chức tập huấn về phương pháp dạy học theo mô hình VNEN cho thể cán bộ, giáo viên nhà trường. Hàng tháng, hàng quý đều tổ chức chuyên đề cấp trường, cụm trường để đánh giá về công tác dạy học theo VNEN để kịp thời rút kinh nghiệm có hướng điều chỉnh.

- Tổ chức cho tập thể cán bộ, giáo viên tìm hiểu qua tài liệu, sách báo về nội dung ý nghĩa của mô hình mới Việt Nam, tổ chức tham gia hội thảo chuyên đề do sở GD, phòng GD tổ chức, giao lưu, dự giờ thực tế mô hình VNEN ở các trường thực hiện toàn phần dự án như trường TH Yên Hóa, TH TT Quy Đạt để học hỏi kinh nghiệm.

1.3. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn:

Chỉ đạo các tổ chuyên môn duy trì sinh hoạt định kỳ của tổ chuyên môn 2 tuần 1 lần và hội ý đột xuất các thành viên trong tổ, tổ chức chuyên đề chung toàn trường để cùng nhau trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Tăng cường sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường để trao đổi học hỏi kinh nghiệm, những sáng tạo của các trường để áp dụng tại trường, trường đã tổ chức được 3 đợt SHCM cụm trường tại trường và tham gia được 5 đợt SHCM cụm trường ở các trường bạn.

      1.4. Triển khai tại trường:

         Nhà trường đã thực hiện tốt tinh thần các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và các chương trình tập huấn về tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) và các văn bản hướng dẫn về chi tiêu tài chính; cụ thể:
1.4.1.Về hình thức tổ chức dạy học:
- Tổ chức dạy học theo hường lấy học sinh làm trung tâm, do vậy việc bố trí học sinh/lớp đảm bảo tỉ lệ bình quân  học sinh/lớp. Học 02 buổi/ngày (9 – 10 buổi/tuần). Mỗi lớp 1 phòng học độc lập với đầy đủ trang thiết bị cần thiết.
- Sắp xếp bàn ghế theo từng nhóm, mỗi nhóm nhiều nhất từ 4 đến 6 học sinh.  
- Lớp có Hội đồng tự quản, được rèn luyện các kỹ năng, thói quen trong các hoạt động tự quản.
- Lớp học được trang trí: góc học tập, hộp thư, sơ đồ cộng đồng, theo dõi chuyên cần, nội qui lớp học, trưng bày sản phẩm, bảng thi đua...
- Giáo viên và học sinh được trang bị tài liệu dạy và học, có tủ, kệ tại lớp để chưng bày sách vở, phương tiên dạy học hợp lý.
1.4.2. Về nội dung dạy và học:
 - Tổ chức phân nhóm học sinh và rèn nề nếp học tập, kĩ năng điều hành cho Hội đồng tự quản, nhóm trưởng ... ngay từ đầu năm học.
- Thực hiện nghiêm túc mọi sự chỉ đạo của nhà trường và của tổ chuyên môn về chương trình mới VNEN: Thực hiện theo 5 bước giảng dạy và 10 bước học tập của học sinh, điều chỉnh nội dung, hình thức học tập phù hợp với đặc điểm tình hình học sinh/lớp; đo tiến độ học tập, chất lượng học học tập bao gồm kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đúng tình thần đã được tập huấn.
- Thường xuyên đầu tư, nghiên cứu tài liệu (như: lô gô, câu lệnh, ngữ liệu,  hình ảnh không rõ ...) để thống nhất trong tổ về cách điều chỉnh cho phù hợp. Đồng thời nhằm hiểu dụng ý của tài liệu và nắm chắc nội dung bài dạy để linh hoạt, sáng tạo trong sử dụng tài liệu, hướng dẫn học tập phù hợp với đối tượng học sinh của lớp và đặc điểm của tiết học.
- Làm tốt công tác tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới. Thường xuyên sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập được trang trí ở trên lớp (Bảng thi đua, hộp thư vui, hộp thư cá nhân ...) vào quá trình học tập nhằm gây hứng thú học tập cho HS và tạo không khí lớp học thoải mái.
 - Phát huy vai trò của các thành viên trong HĐTQ lớp, đội ngũ nhóm trưởng trong các hoạt động dạy-học. Thực hiện luân phiên thành viên HĐTQ, đội ngũ nhóm trưởng và cơ cấu nhóm để nhiều HS trong lớp có cơ hội thể hiện bản thân, HS trong lớp được hợp tác với tất cả các bạn trong lớp.
- Giáo viên thực hiện khá nhuần nhuyễn 5 bước giảng dạy khi lên lớp. Đã nắm bắt, phân loại đối tượng học sinh trong lớp để kèm cặp giúp đỡ học sinh một cách chủ động.
- Linh hoạt chủ động điều chỉnh nhịp độ học tập tùy theo đối tượng học sinh của mình; thực hiện ghi chép nhật kí cụ thể ở mỗi bài dạy để điều chỉnh, rút kinh nghiệm khi gặp những vướng mắc về nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động theo tài liệu. Có sổ theo dõi, nhận xét kết quả học tập của học sinh qua từng bài, từng thời điểm cụ thể.
- Thường xuyên khen ngợi, khích lệ học sinh trong học tập.
 - Tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn của tổ khối cũng như của nhà trường, cụm chuyên môn như thao giảng, dự giờ để học hỏi lẫn nhau và tích luỹ kinh nghiệm trong dạy - học theo mô hình trường học mới.

- Chuẩn bị chu đáo ĐDDH: Phiếu bài tập, hình ảnh, đồ dùng trực quan...; dự kiến tình huống trả lời, đáp án các câu hỏi, bài tập...
          - Các em học sinh được trang bị đồ dùng học tập và Tài liệu hướng dẫn dạy học tương đối đầy đủ.
- Được tương tác với các bạn trong nhóm; được tự đánh giá quá trình học tập của bản thân. Khẳng định được vai trò của mình trong điều hành các bạn trong nhóm học tập; trong các hoạt động của lớp học sinh khá nhuần nhuyễn trong việc thực hiện theo 10 bước học tập.
1.4.3. Về công tác phối hợp giáo dục phụ huynh học sinh và cộng đồng:

Qua hai năm triển khai, thực hiện Mô hình trường học mới mức độ 1 và 2 năm triển khai toàn phần, giáo viên và các em học sinh đã thích nghi với phương pháp và cách thức tổ chức dạy học, đạt được hiệu quả hơn so với chương trình hiện hành. Trường có sự đổi mới về CSVC, trang trí lớp học thân thiện tạo được không khí học tập, các mối quan hệ hợp tác trong và ngoài nhà trường được cải thiện, hướng về người học, hướng về phát triển năng lực của học sinh. Giáo viên đã hạn chế được giảng giải, thuyết trình, tập trung vào việc quan sát, hướng dẫn, tổ chức học tập, hỗ trợ, thúc đẩy quá trình tự học của học sinh. Đến nay trường đã tạo được sự đồng thuận của Cha mẹ học sinh và cộng đồng thông qua trang trí lớp học, cùng tham gia các hoạt động ứng dụng với học sinh vì vậy được phụ huynh, nhân dân và chính quyền địa phương đồng tình ủng hộ cao.

2. Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học:

2.1. Về tổ chức lớp học, số lượng học sinh:

- Trường có 3 điểm trường tạo điều kiện cho học sinh đi học gần nhà, số lượng học sinh của mỗi lớp đảm bảo theo quy định của điều lệ trường tiểu học.

- Số lượng phòng học đầy đủ cho mỗi lớp 1 phòng vì vậy thuận lợi cho việc học của học sinh,việc trang trí lớp, phòng học có đủ diện tích, bàn ghế đúng quy cách, có các trang thiết bị đảm bảo cho việc tổ chức dạy học theo phương thức mới đạt hiệu quả cao.

2.2. Phòng học và các phòng chức năng phục vụ dạy học:

- Trường cũng đã có đầy đủ các phòng chức năng như thư viện, thiết bị, phòng y tế, phòng nghệ thuật, phòng tiếng Anh, phòng tin học, các phòng làm việc của ban giám hiệu, phòng họp giáo viên, hội trường… có đủ các trang thiết bị phục vụ tốt cho dạy học và các hoạt động khác.

- Huy động được nguồn lực xã hội hóa để đầu tư thêm cơ sở vật chất cho nhà trường như xây dựng thêm 03 góc thân thiện, tu sữa và làm mới 14 bồn hoa, 15 cây xanh bóng mát, 02 thư viện xanh, 03 nhà xe, sân học thể dục, phòng nghệ thuật, phòng truyền thống, phòng đọc, khu nghệ thuật ngoài trời.... đảm bảo cho việc tổ chức học và giáo dục học sinh.

- Trường có 2 phòng thư viện có đủ diện tích phục vụ học sinh, trường cùng phối hợp với gia đình hướng dẫn mua sắm đầy đủ tài liệu phục vụ việc dạy học theo mô hình mới đảm bảo cho học sinh tự học đạt kết quả cao.

3. Những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình trường học mới:

3.1. Thuận lợi:

- Được sự hỗ trợ tích cực, kịp thời của Ban giám hiệu cũng như chuyên viên tiểu học Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Minh Hóa về mọi mặt.

- Trường có cơ sở vật chất khang trang, mỗi lớp 1 phòng học độc lập với đầy đủ trang thiết bị cần thiết.

- Sĩ số học sinh thấp, đúng với qui định của mô hình trường học mới.

- Giáo viên giảng dạy nhiệt tình, đều đã được tham gia tập huấn đầy đủ về mô hình trường học mới; tích cực tự làm đầy đủ đồ dùng dạy học.

- Được sự đồng tình ủng hộ của cha mẹ học sinh.

3.2. Khó khăn:

Chương trình VNEN đang ở giai đoạn thử nghiệm nên tài liệu vẫn còn một số chỗ chưa hợp lý, gây khó khăn cho GV trong quá trình dạy học.

Yêu cầu của chương trình là học sinh khi lên lớp 2 phải biết đọc và viết thành thạo mới tự học được.

Ngoài ra do môi trường, điều kiện xã hội, giáo dục gia đình, học sinh Minh Hóa phần lớn còn rụt rè trong giao tiếp.

 Một bộ phận thầy cô tuổi cao sức khỏe yếu ngại đổi mới.

Bộ phận không nhỏ cha mẹ học sinh thiếu sự quan tâm phó mặc việc học cho thầy cô, chưa dành thời gian để hướng dẫn chia sẻ với con em theo tài liệu học tập, giáo viên khó nắm bắt được thông tin từ phía cha mẹ.

 

          4. Những ưu điểm, tồn tại khi thực hiện mô hình trường học mới:

          4.1. Ưu điểm:

Chương trình VNEN phát huy tối đa vai trò chủ động tích cực của học sinh, dưới sự gợi ý của tài liệu và các nhóm trưởng, học sinh tự học là chính còn giáo viên chỉ là người quan sát, theo dõi để giúp đỡ học sinh khi gặp khó khăn hoặc động viên học sinh khi đã hoàn thành tốt yêu cầu.

Nội dung sách có kênh hình, kênh chữ phù hợp nội dung tiết dạy; sau mỗi bài học đều có phần hoạt động ứng dụng để học sinh thực hành.

Phát huy vai trò của các thành viên trong hội đồng tự quản, nhóm, giúp các em có cơ hội thể hiện bản thân.

Tài liệu hướng dẫn học tập là tài liệu 3 trong 1 (dành cho học sinh, dành cho giáo viên, dành cho cha mẹ học sinh hướng dẫn con em mình) với những gợi ý về cách thức tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp nên giáo viên được định hướng tốt cho việc giảng dạy.

          4.2. Tồn tại:

Mô hình VNEN chú trọng dạy học theo nhóm nên giáo viên không dạy học được cá thể hóa để kèm cặp học sinh yếu.

Còn một vài giáo viên áp dụng mô hình tương đối rập khuôn, chưa mạnh dạn sáng tạo trong các hoạt động.

Phần ghi nhận xét học sinh trong từng tiết dạy đôi lúc còn chung chung, chưa làm nổi bật được các nét về phẩm chất cũng như năng lực của từng học sinh.

5. Bài học kinh nghiệm:

- Phải tăng cường thời gian đọc, viết trong hè đối với các em lớp 1 thì mới có thể đáp ứng phần nào yêu cầu của chương trình học đối với lớp 2 năm sau.
- Tập huấn cho Hội đồng tự quản, nhóm trưởng biết cách làm việc trong các hoạt động học tập, vui chơi... ngay từ các tuần đầu ổn định nề nếp, tổ chức lớp.
- Giáo viên phải có sự đầu tư nghiên cứu nội dung, phương pháp giảng dạy; quan tâm đến từng đối tượng học sinh, biết hỗ trợ học sinh trong quá trình học, đánh giá, nhận xét và góp ý, tạo môi trường thân thiện, tích cực.
- Thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn để trao đối thống nhất về cách thức tổ chức dạy học theo nội dung chương trình biên soạn và tài liệu hướng dẫn học một cách có hiệu quả.
 

II. PHƯƠNG HƯỚNG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TRONG NĂM HỌC 2017- 2018:

- Tiếp tục thực hiện tốt công các công văn chỉ thị năm học, công tác thực hiện đổi mới phương pháp dạy học VNEN.

 - Tiếp tục thực hiện tốt việc triển khai tập huấn, tham quan học hỏi kinh nghiệm các trường triển khai dự án thành công trên dịa bàn.

- Tiếp tục tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới VNEN từ lớp 2 đến lớp 5 trong năm học 2017- 2018.

- Tiếp tục vận động phụ huynh để phối hợp giáo dục học sinh và tăng trưởng cơ sở vật chất cho nhà trường.

- Tăng cường sinh hoạt chuyên môn, thể hiện chuyên đề để đúc rút kinh nghiệm, tham gia tiếp tục sinh hoạt chuyên môn cụm trường.

- Thực hiện tốt việc kiểm tra đánh giá giáo viên việc thực hiện dạy học VNEN va đánh giá học sinh theo thông tư 22.

- Tiếp tục phối hợp tốt giữa nhà trường- gia đình- xã hội để tăng trưởng cơ sở vật chất, phối hợp hướng dẫn học va giáo dục họ sinh.

          Cuối năm học nhà trường đã tiến hành phát phiếu đăng kí học chương trình VNEN cho học sinh lớp 2,3,4,5 để cha mẹ tự nguyện đồng ý đăng kí học và mua tài liệu học tập theo mô hình VNEN năm học 2017-2018.

 

          Trên đây là kết quả rà soát, đánh giá bốn năm thực hiện mô hình VNEN và phương hướng triển khai thực hiện trong năm học 2017 - 2018 của Trường Tiểu học Minh Hóa, nhà trường sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể năm học 2017- 2018 để tổ chức đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện mô hình trường học mới.

 

 

Nơi nhận:

- Phòng GD&ĐT (b/c);

- Lưu: VT.

HIỆU TRƯỞNG

 

 

Đinh Thị Bạch Dương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thời tiết hiện tại
Thống kê truy cập
Đơn vị trực thuộc
Phòng GD&ĐT MInh Hóa
qc2
qc3
 
 
 
Thiết kế website
 
 
 
 
 
 
^ Về đầu trang